22 Tháng Chín 2019
 
Diễn đànDiễn đànNghệ thuật và k...Nghệ thuật và k...Biển nguồn chữ ...Biển nguồn chữ ...Bã dạiBã dại
Trước Trước
 
Tiếp Tiếp
Bài mới
 28/06/2013 9:37 SA
 

Ăn phải bã tư tưởng của bọn “biệt kích văn hóa”, Huy Đức sinh sản ra “Bên thắng cuộc” con đẻ của bọn “biệt kích văn hóa”

Luật gia, Nhà báo
HOÀNG PHƯƠNG

TÔI XIN TỰ GIỚI THIỆU, TÔI LÀ HOÀNG PHƯƠNG, SINH NĂM 1952. QUÊ QUÁN: XÃ DUY HÒA, HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM. VỀ TUỔI ĐỜI, TÔI LỚN HƠN HUY ĐỨC 10 TUỔI, ĐẾN NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975 TÔI ĐÃ 23 TUỔI, LÀ CHIẾN SĨ QUÂN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM; CÒN HUY ĐỨC CHỈ MỚI 13 TUỔI. MẶT KHÁC, TÔI LÀ LUẬT GIA VÀ CÒN LÀ ĐỒNG NGHIỆP VỚI HUY ĐỨC.
XEM TRÊN MẠNG SÁCH “BÊN THẮNG CUỘC” MỞ ĐẦU: “VÌ SAO TÔI VIẾT”, HUY ĐỨC VIẾT: “…THEO NHƯ NHỮNG BÀI HỌC CỦA CHÚNG TÔI SẼ CHẤM DỨT “HAI MƯƠI NĂM RÊN XIẾT LẦM THAN”. TRONG CÁI THỜI KHẮC LỊCH SỬ ẤY, TRONG ĐẦU TÔI MỘT SẢN PHẨM CỦA NỀN GIÁO DỤC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA XUẤT HIỆN Ý NGHĨ: PHẢI NHANH CHÓNG VÀO NAM ĐỂ GIÁO DỤC CÁC BẠN THIẾU NIÊN LẦM ĐƯỜNG LẠC LỐI… CUỐN SÁCH CỦA TÔI BẮT ĐẦU TỪ NGÀY 30-4-1975, NGÀY NHIỀU NGƯỜI TIN LÀ MIỀN BẮC ĐÃ GIẢI PHÓNG MIỀN NAM. NHIỀU NGƯỜI THẬN TRỌNG NHÌN LẠI SUỐT HƠN 30 NĂM, GIẬT MÌNH VỚI CẢM GIÁC BÊN ĐƯỢC GIẢI PHÓNG HÓA RA LẠI LÀ MIỀN BẮC…”.

Ăn phải bã tư tưởng của bọn “biệt kích văn hóa”, Huy Đức sinh sản ra “Bên thắng cuộc” con đẻ của bọn “biệt kích văn hóa”

Huy Đức ơi! Hai mươi năm rên xiết lầm than ở miền Nam là có thật, chứ không như Huy Đức viết đâu. Theo con số điều tra tương đối chính xác của Uy-li-am Pipơ, giám đốc Viện Merray College ở Mỹ, do hãng AFP đưa tin ngày 22 tháng 12 năm 1966 thì “ở miền Nam Việt Nam có 250.000 trẻ em đã bị chết vì chiến tranh trong vòng 4 năm từ 1961 đến 1965 và có hơn 750.000 trẻ em bị thương, bị bỏng cháy vì bom na-pan, hàng triệu trẻ em khác sống cực khổ trong các trại lánh nạn và hàng triệu nữa bị lang thang, lạc lõng, bơ vơ ở các thành phố, tàn tạ trong cuộc sống ăn xin”.
Cũng trong thời gian này, Mỹ – ngụy đã hãm hiếp hơn 30.000 phụ nữ, có cả bà già và trẻ em, phụ nữ có thai, nhà tu hành… Chúng còn mổ bụng, moi gan lấy mật chôn sống hơn 5.000 người.
Tại Sài Gòn, chỉ trong vài đợt chiến dịch gọi là “vì dân”, từ ngày 15 tháng 9 năm 1970 đến ngày 28 tháng 12 năm 1970, Mỹ – ngụy đã bắt bớ, khủng bố 280.250 người. Đợt từ ngày 1 tháng 7 năm 1971 đến 30 tháng 9 năm 1971, chúng bắt giam hơn 10.000 người. Trong ba tháng cuối năm 1971, thì cứ mỗi tuần có từ 4.000 đến 5.000 người bị bắt giữ vì tình nghi có liên lạc với Việt cộng. Trên 1.500 người bị đày ra Côn Đảo. W. Colby cố vấn về “bình định” của Mỹ thú nhận rằng: “dưới thời Nixon ở miền Nam Việt Nam đã có 66.982 người bị bắt, trong đó có 20.857 người bị giết trong vòng ba năm từ 1968 đến 1971” (Nọc độc văn hóa nô dịch (Sách đã dẫn) của Chính Nghĩa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, trang 32, 33).
Tôi sẽ kể cho Huy Đức nghe: Có lẽ không ở đâu trên trái đất này, chịu sự khốc liệt đến kinh hoàng như quê tôi dưới thời Mỹ – Diệm, với khẩu hiệu: “Diệt cộng là quốc sách”, Mỹ – ngụy chủ trương không chỉ “giết nhầm hơn bỏ sót” mà còn hung hăng đòi tiêu diệt hết những người cộng sản, tiêu diệt cả tổ chức và tư tưởng cộng sản (!), chúng đã huy động mọi lực lượng quân sự, an ninh, hành chính, tình báo, tâm lý chiến… ra sức khủng bố trắng, đàn áp toàn diện bằng luật 10/59, “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật” thẳng tay bắt bớ, tra tấn, chém giết những người yêu nước; biến miền Nam thành một nhà tù khổng lồ. Kế hoạch Staley Taylor bình định miền Nam trong vòng mười tám tháng bằng thủ đoạn “tát nước bắt cá”, Mỹ – Diệm cho rằng: tách rời cộng sản ra khỏi nhân dân và tách rời nhân dân ra khỏi thửa ruộng, mảnh vườn của họ là chúng thắng lợi.
Làm sao quên được, vào khoảng tháng 11-1959, tôi đang học lớp nhì (lớp 4 ngày nay) trong giờ ra chơi buổi sáng thì thầy trò bọn tôi thấy khói bốc lên nghi ngút từ ngôi nhà bà Nguyễn Thị Nhị (còn gọi là bà Thợ Nhị) ở bên cạnh đồng Sáu Mẫu quê tôi. Thầy Thiên lỡ lời lẩm bẩm:
- Vậy là nhà bà Thợ Nhị bị đốt rồi! – Học sinh bọn tôi nhao nhao hỏi:
- Tại sao lại bị đốt? Ai đốt nhà vậy thầy? – Nén xúc động thầy Thiên bảo:
- Thôi các em vào lớp. Cố gắng học cho giỏi. Sau này các em lớn lên, các em sẽ biết.
Sau đó, có dịp gặp tâm tình với chị Trịnh Thị Thanh Tâm (chị Hai On – chị em chú bác với tôi) chị ấy cho biết: Lúc bấy giờ, chị là một trong số cơ sở nuôi dưỡng, che giấu đồng chí Đào Hồng Anh – huyện ủy viên huyện Duy Xuyên, đêm trước khi nhà bà Thợ Nhị bị đốt cháy, địch phát hiện nhà bà Thợ Nhị có cán bộ “cộng sản”, chúng liền bao vây và xô cửa ập vào. Tuy bị bất ngờ nhưng bà Thợ Nhị vẫn dũng cảm cản ngăn, che chở, đồng chí Đào Hồng Anh nhanh nhẹn, mưu trí, nổ súng vào bọn địch, rồi chạy thoát. Tức tối, địch bắt tất cả mọi người trong gia đình bà Thợ Nhị đưa đi giam cầm, tra tấn. Chúng phong tỏa các lối đi, giơ cao báng súng hoặc chĩa lưỡi lê vào dân làng, bắt dân làng gánh lúa, dắt trâu, bắt heo gà của nhà bà Thợ Nhị mang về đồn cho chúng, rồi chúng mới đốt nhà bà vào sáng hôm ấy. Dã man hơn chúng còn tập trung dân làng trong toàn quận Duy Xuyên, bắt mọi người phải mang theo gậy gộc đến tại sân trường Sào Nam, bắt mọi người phải đánh đập bà Thợ Nhị và anh Toại – con bà. Tuy nhiên kẻ địch đã không mãn nguyện vì dân làng không ai cam tâm làm điều táng tận lương tâm đến bất nhân như vậy và ngược lại người ta còn căm thù chúng nhiều hơn. Chỉ có vài tên ác ôn xông vào đánh đập bà Thợ Nhị và anh Toại rất tàn nhẫn, nhưng mọi thủ đoạn đê hèn của chúng vẫn không moi được tin tức gì từ những người thân trong gia đình bà Thợ Nhị.
Kẻ địch mỗi ngày mỗi gian ác, nham hiểm, xã Xuyên Hòa quê tôi, chúng thành lập một trung đội dân vệ, mỗi thôn một trung đội thanh niên cộng hòa, bắt dân sắm mõ, gậy gộc, dây thừng. Chúng thường xuyên tăng cường bọn Tổng đoàn (lính quận) và biệt kích Tây Hồ do tên đại úy Sáu khét tiếng gian ác, thâm độc chỉ huy lùng sục, phục kích. Ban đêm chúng sục sạo vào nhà mà chúng tình nghi, bắt người giết tại chỗ hoặc đưa đi thủ tiêu, đó là các anh, chị: Hồ Rân, Nguyễn Mười ở thôn Mỹ Lược; Lê Đủ, Nguyễn Bốn ở thôn Phú Lạc; Nguyễn Thị Liên ở thôn La Tháp… Đồng chí Đào Hồng Anh cũng hy sinh trong thời gian này. Nhiều người tham gia chống Pháp trong 9 năm, đêm đêm bị Mỹ – Diệm bắt bỏ vào bao tải sọc xanh ném xuống sông Thu Bồn, đến khi trương sình nổi lên, người dân quê tôi vớt được, âm thầm đem đi an táng.
Xã Xuyên Hòa quê tôi, chúng xây dựng tại Gò Om và Gò Bà Khả thành căn cứ quân sự do một đại đội lính tổng đoàn và bọn dân vệ, tề xã trú đóng trên đỉnh của hai gò, trên đỉnh Gò Bà Khả chúng dựng lều bạt, trên đỉnh Gò Om chúng dựng nhà làm hang ổ chỉ huy. Chung quanh đỉnh đồi là bãi mìn bẫy, hầm chông với hàng chục lớp rào kẽm gai giăng mắc, cửa ra vào là một lối đi vừa vặn một người đi, đi theo hình chữ chi vặn vẹo, đã vào đây không ai đi nhanh được.
Chúng gom dân từ các xóm, ấp trong toàn xã bắt dọn nhà đến ở lưng chừng Gò, gia đình anh, bà con anh, chòm xóm anh và toàn xã đều phải dỡ nhà dọn đến Gò Om. Chúng hi vọng người dân sẽ làm bia đỡ đạn cho chúng nếu bị Quân giải phóng tấn công. Từ dưới chân Gò trở ra, chúng lại làm hàng rào kẽm gai, đào hào sâu, cắm chông và gài mìn bẫy, chỉ chừa ở hướng Nam và hướng Bắc của hai Gò, mỗi hướng duy nhất một cổng ra vào có cửa đóng lại khi màn đêm buông xuống, và chúng quy định, mọi người dân đi làm ruộng sinh nhai, chỉ được ra khỏi cổng rào lúc 6 giờ sáng và phải trở về nhà trước 17 giờ.
Sau 17 giờ, bọn dân vệ, bọn tổng đoàn, bọn biệt kích Tây Hồ đi gài lựu đạn khắp các hàng rào và hai cổng ra vào, hằng đêm bọn này đi phục kích, đi lùng sục khắp các nhà dân, trộm cắp gà, vịt mang về ăn nhậu tận khuya rồi ngủ thẳng cẳng, sáng ra không đi gỡ lựu đạn mà chúng đã gài, khiến nhiều người dân quê tôi chết oan thê thảm. Ông Trượng – một nông dân hiền lành, chất phác, tuổi ngoài năm mươi, có ruộng vườn ở thôn La Tháp. Đã 6 giờ 30 phút sáng, ông mở cổng đi làm, bị lựu đạn nổ chết liền tại chỗ là một trường hợp điển hình.
Huy Đức biết không, “khoảng 8 giờ tối ngày 28 tháng chạp (tức ngày 21-1-1955) có hai chiếc xe GMC từ quận lỵ Duy Xuyên đến đỗ trước chùa Bà Giám. Chúng đọc danh sách từng người, khi họ vừa bước ra khỏi cửa nhà giam thì bị trói thúc ké hai tay ở sau lưng, rồi đẩy lên xe bịt bùng. Xe rồ máy chạy về phía đập Vĩnh Trinh. Trời tối đen như mực. Ngoài ánh đèn pin và đèn pha ô tô, không có một ánh lửa nào khác. Những người bị trói ngồi trên xe hoang mang không biết chúng đưa họ đi đâu. Đến khi xe dừng lại, họ mới nhận ra ánh nước từ mặt hồ loang loáng và phía xa là bóng núi xanh mờ mờ của rừng cây. Linh tính như cho biết là chúng sẽ đem ném họ xuống hồ nước. Nhiều tiếng la ó phản đối vang lên cùng lúc: “Sao các ông bảo thả chúng tôi về ăn Tết, mà lại đưa đến đây?”.
Một tên trong bọn trả lời:
- Sẽ cho chúng bay về ăn Tết ở âm ti!
Những tiếng la cầu cứu, tiếng hô đả đảo bọn sát nhân, tiếng chửi bới vang lên. Nhưng nơi đây là cảnh núi đồi heo hút và cách một cánh đồng rộng mới đến xóm nhà dân.
Theo lệnh của tên chỉ huy, bọn công an và công dân vụ lôi từng người bị trói, xô ngã ra khỏi xe từng người, rồi dùng báng súng đánh thục mạng vào đầu, vào sườn cho đến khi bất động. Những tên khác dùng dao xẻo mũi, cắt tai và móc mắt nạn nhân với thâm ý sau này dù phát hiện tử thi thì cũng khó mà nhận diện ra người thân để tố cáo. Chúng bỏ từng xác người vào bao tải, bỏ thêm những hòn đá lớn để tránh xác nổi phình lên vào những ngày sau. Bao tải thiếu, chúng dùng dây thép gai buộc những tảng đá vào lưng, vào chân từng người trước khi đưa họ xuống thuyền, chở ra ném xuống giữa hồ nước.
Nhiều tiếng hô đả đảo, chửi vào mặt bọn sát nhân gian ác, những tiếng la hét vang dậy, nhưng chân tay họ bị trói, đành bất lực chịu chết một cách thảm khốc.
Sau khi dùng thuyền chở 37 cái xác chết, đúng ra là 38, vì có chị Phan Thị Diệu đang mang thai, ném xuống giữa hồ, đám tay sai xóa mọi vết tích, bóc sạch những vũng máu trên mặt đất để phi tang.
Trong khi đó, những gia đình có người thân ở tù chờ mỏi mắt vẫn không thấy người thân về sum họp trong ba ngày Tết. Họ kéo nhau đến quận, đến các trại giam hỏi tin tức về những người chồng, người cha, người mẹ bị giam giữ thì được bọn lính trả lời là đã trả tự do cho họ về trước Tết… Được tin báo của quần chúng có một số xác chết nổi lên trên mặt hồ Vĩnh Trinh. Lập tức các gia đình có người thân bị giam giữ biệt tích, những gia đình cơ sở cách mạng tập trung vào đập Vĩnh Trinh, tổ chức lội xuống hồ tìm vớt xác. 37 xác người đã sình lên, thối rữa, tay chân bị trói, da thịt lở loét, tai, mũi bị cắt, mắt bị khoét nên mặt đã bị biến dạng, làm cho người thân không còn nhận ra. Bỗng chị Lê Thị Thanh khóc rống lên:
- Trời đất ơi! Chồng tôi đây rồi. Sao thân thể, mặt mày như thế này? Chiếc áo cụt đen có miếng vá trước ngực do tôi vá còn đây này!
Mẹ Điểm lật qua lật lại từng xác chết, rồi bỗng kêu lên:
- Con ơi là con! Sao người ta cắt mũi, móc mắt con tôi như thế này? Quân dã man đến thế là cùng! Trời đất, quỷ thần ơi! Sao không diệt sạch lũ giết người đi!
Riêng xác chị Phan Thị Diệu thì dễ nhận ra hơn. Trong số nữ tù nhân chỉ có chị mang thai, bụng to, bây giờ xác chị trương lên làm nứt cả áo quần, mái tóc dài bê bết bùn trên khuôn mặt đã rữa nát.
Những trai tráng khỏe mạnh đã lặn xuống nước vớt thêm nhiều xác nữa. Trong tổng số xác chết của những người thân lần lượt nhận ra, đưa về nhà khâm liệm, tổ chức an táng. Những nạn nhân còn lại được đồng bào tổ chức mai táng dưới chân đồi thông, bên bờ đập…
Để ghi nhớ tội ác này, sau ngày giải phóng (30-4-1975) bên cạnh đập Vĩnh Trinh, một khu tưởng niệm những chiến sĩ cách mạng đã hy sinh được xây dựng, gồm một hồ nước vuông, mỗi cạnh dài 18m, trên mặt hồ nổi lên 38 đóa sen, tượng trưng cho 38 sinh mạng bị sát hại (trong đó có một búp sen chưa nở, thể hiện một thai nhi bị hại). Bên cạnh hồ sen là tượng một chiến sĩ cao 10m, hai tay bị trói sau lưng, dáng đứng hiên ngang, đầu ngẩng cao. Bên cạnh là tấm bia khắc họ tên những người đã hy sinh trong cuộc thảm sát ngày 21-1-1955”. (Theo Đất Quảng, Những sự kiện đáng nhớ của Thạch Phương do Nhà xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2008, trang 187, 188, 189, 190).
Huy Đức biết không, tôi đã chứng kiến và nghe thấy những vụ việc như vừa nêu. Đó là động cơ thúc giục, 16 tuổi, tôi vào Quân giải phóng tham gia đánh Mỹ cứu nước. 17 tuổi, tôi bị địch bắt giam giữ, đày ải, tra tấn dã man chết đi sống lại ở Nha cảnh sát đô thành, Chí Hòa, Côn Đảo, Hố Nai. Do thắng lợi của Hiệp định Paris tôi được trao trả trở về tiếp tục chiến đấu góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà.
Huy Đức thấy đấy, những sự thật vừa nêu ở cả miền Nam nói chung và trên quê hương tôi nói riêng, ở đâu cũng vậy, há không phải là hai mươi năm rên xiết lầm than hay sao? Đâu chỉ với bản thân tôi, tuổi thanh niên là tuổi tươi đẹp nhất của một đời người. Song, tuổi thanh niên ở miền Nam đã có hàng vạn thanh niên nam, nữ đã phải vào tù. Riêng cá nhân tôi có gần bốn năm rưỡi bị địch bắt cầm tù. Dân gian có câu: “Nhất nhật tại tù, tam thu tại ngoại”, nghĩa là một ngày ở tù bằng ba năm ở ngoài. Như vậy, tuổi thanh niên ở miền Nam nói chung và tuổi thanh niên của cá nhân tôi nói riêng, cũng chẳng phải là rên xiết lầm than hay sao Huy Đức? Rõ ràng, những điều Huy Đức viết ra là không đúng sự thật.
Huy Đức còn viết: “… Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh… được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giới văn chương gần gũi hơn. Rừng thẳm tuyết dày, Thép đã tôi thế đấy… những chiếc máy Akai, radio cassettes được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà nhớ mẹ, nhớ em chứ không chỉ có “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi… Không ai có thể đi đến tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ nhất là một quá khứ mà chúng ta can dự và có phần cộng đồng trách nhiệm”.
Là dân sinh ra và lớn lên ở miền Nam nhiều người biết rằng: Trong một loạt âm mưu nô dịch của chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, đế quốc Mỹ luôn chú trọng chiến tranh tâm lý, coi như một quốc sách để chống phá cách mạng miền Nam. Tờ Chỉ đạo số Xuân Đinh Dậu 1957 xuất bản ở Sài Gòn viết: “Trước khi dùng đến vũ khí, trước cả khi dùng đến chính trị, cuộc đấu tranh chống cộng sản hơn bao giờ hết là cuộc chiến tranh tâm lý”.
Cơ quan thông tin Mỹ ở Sài Gòn phối hợp với tổ chức CIA, chỉ đạo mọi hoạt động chiến tranh tâm lý, thông qua các tổ chức chính trị, văn hóa xã hội: “hội Việt – Mỹ”, các chương trình viện trợ, cứu tế, thăm viếng để thực hiện. Chúng tập hợp bọn “biệt kích văn hóa”, bọn bồi bút như Từ Chung, Chu Tử, Mai Thảo, Duyên Anh, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phiến, Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu… cơ quan tâm lý chiến của Mỹ – ngụy đã cung cấp tài chính, bảo trợ cho chúng làm cái loa chửi cộng sản, xuyên tạc sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bôi xấu cán bộ, đảng viên, chiến sĩ Quân giải phóng… từ bịa đặt, vu khống, nói xấu đến kích động chống cộng sản một cách điên cuồng nhằm đầu độc bạn đọc.
Chúng tôn bọn lính đánh thuê thành những chiến binh biết vì nước vì dân, tô vẽ cho sĩ quan ngụy cái vẻ hào hoa phong nhã, đẹp trai, đàn giỏi hát hay và không thể thiếu chất yêu đương dâm loạn, chơi bời trác táng để quyến rũ kích thích dục vọng thấp hèn, đơn cử:
Trong “ Áo tiểu thư”, Duyên Anh viết: “Tôi mơ mộng có một ông nghị sáng giá của Hợp chủng quốc giả đò làm Mỹ kiều lục lộ, ăn mặc lem nhem, dạo phố thăm dân Việt Nam cho biết sự tình. Ông nghị bị tên đặc công cộng sản chận đường dí súng vào gáy. Tôi đi qua phố vắng vẻ nào đó, nhào lại hạ tên cộng sản, đoạt súng nghiêng mình tặng khẩu K54 cho ông nghị Mỹ… Mấy năm sau, ông ra ứng cử tổng thống Mỹ và đắc cử. Ông tổng thống Mỹ nhớ ân nhân của ông và đưa tôi lên làm tổng thống Việt Nam”…
Còn Mai Thảo coi tự do hưởng lạc là thức thời. Ở “Suối độc”, Mai Thảo viết: “Đàn bà chúng mình bây giờ là phải sống cho đời mình, nghĩa là phải tự do. Tự do trước đã. Mày sợ dư luận thì còn làm gì nữa ! Coi tao đây này. Tao ly dị với chồng. Tao mở phòng trà. Tao đi chơi tối ngày không sợ. Cuộc sống tự do ngây ngất như một ly rượu mạnh”…Trong “Cùng đi một đường” của Mai Thảo: Diễm Quỳnh là một bà mệnh phụ đa tình với bốn chục xuân dư, làm giám đốc một hãng nhập khẩu phim ảnh. Đã từng trải mùi đời. Diễm Quỳnh khéo bắt bồ với Thiều, một sinh viên du học bên Pháp mới về, còn trẻ măng và cường tráng. Biết Thiều đã có người yêu, nhưng Diễm Quỳnh vẫn tìm mọi cách chinh phục bằng được và cưới Thiều làm chồng để hưởng lạc: “ăn – ngủ – thức dậy – làm tình – ăn – ngủ – thức dậy và lại làm tình nữa… Đêm lại là ngày, ngày lại là đêm… Những trận tình mê đắm lại tiếp diễn. Lại là những tiếng kêu thét khoái lạc trong căn buồng đóng kín” và “Chàng chỉ còn là một công cụ trong tay người đàn bà…” (Nọc độc văn hóa nô dịch – Sách đã dẫn, trang 43, 61).
Khi miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Huy Đức còn là một thiếu niên 13 tuổi, học vấn chỉ lớp 7 lớp 8, làm sao biết được mục tiêu lý tưởng, ý thức tổ chức kỷ luật và sự ham thích của bộ đội lúc bấy giờ, ham thích của chúng tôi là tìm mọi cách để hoàn thành nhiệm vụ, đại bộ phận bộ đội không ai ham thích giấu những thứ rác rưởi như tôi vừa nêu của Mai Thảo, Duyên Anh tận đáy ba lô để đầu độc bọn trẻ như Huy Đức. Ngoài xã hội lúc bấy giờ những sách rác rưởi đó người ta cũng đốt hoặc ném vào sọt rác. 13 tuổi, Huy Đức đã cố ý moi trong sọt rác, lén lút ăn phải bã của bọn “biệt kích văn hóa” rồi “nổ”: “Không ai có thể đi đến tương lai một cách vững chắc nếu không hiểu trung thực về quá khứ nhất là một quá khứ mà chúng ta can dự và có phần cộng đồng trách nhiệm”. 13 tuổi, Huy Đức biết gì về quá khứ ở miền Nam trong chiến tranh mà nói là không hiểu trung thực về quá khứ mà nhất là một quá khứ mà chúng ta can dự và có phần cộng đồng trách nhiệm. Huy Đức có can dự gì và cộng đồng trách nhiệm gì với quá khứ chống Mỹ cứu nước? Trong lời cám ơn, Huy Đức cám ơn hơn 100 người từ Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương trở xuống, chưa biết thực hư ra sao, song gặp tôi, ông Trần Trọng Tân, nguyên Trưởng Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương bức xúc, tức giận: “Tôi có nói chuyện gì với hắn bao giờ mà hắn cám ơn”! Rõ là “nổ” và xạo quá xá! Chưa hết, trại Davis ở Tân Sơn Nhất, Huy Đức viết: “… khoảng 15 giờ “sứ bộ” thứ hai gồm Luật sư Trần Ngọc Liễng, Linh mục Chân Tín, Giáo sư Châu Tâm Luân vào trại Davis. Trưởng phái đoàn chính phủ cách mạng Võ Đông Giang ra tiếp, nhận thông điệp “Sài Gòn không chống cự” từ ông Liễng. Do tình hình chiến sự, ông Võ Đông Giang đã giữ “sứ bộ” ở lại trại Davis cho tới khi Quân giải phóng vào đến Sài Gòn”…
Sự thật, nguyên Trưởng đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam trong Ban Liên hợp quân sự hai bên trung ương là Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn chứ không phải Trưởng phái đoàn chính phủ cách mạng Võ Đông Giang và cũng không có việc ông Võ Đông Giang đã giữ “sứ bộ” ở lại trại Davis cho tới khi Quân giải phóng vào đến Sài Gòn. Sự thật: “… đồng chí Võ Đông Giang, Phó trưởng đoàn tiếp ba vị trên tại hầm Sở chỉ huy dự bị. Họ vừa vào đến hầm thì đợt pháo tấp cập của trận đánh trực tiếp vào Tân Sơn Nhất bắt đầu và chắc chắn suốt đêm sẽ không ngơi tiếng súng. Để bảo đảm an toàn tính mạng ta khuyên họ ở lại cho đến lúc xong trận. Tuy nhiên để tránh bị hiểu lầm là ta cố tình giữ họ lại, ta nói sẽ cho lực lượng yểm trợ nếu họ muốn về. Sau mấy phút suy nghĩ và trao đổi ý kiến với nhau, họ xin ở lại, vì cũng thấy trở về lúc này là quá mạo hiểm. Như vậy là trong cái đêm 29 tháng 4 năm 1975 lịch sử trong một Sở chỉ huy quân cách mạng ở ngay tại Tân Sơn Nhất, có ba vị khách không phải là Quân giải phóng, một giáo sư, một luật sư và một linh mục Thiên chúa giáo, cùng với một sĩ quan cộng sản thức trắng để trò chuyện và theo dõi nhịp độ thần tốc của cuộc Tổng tấn công giải phóng Sài Gòn. Đồng chí Võ Đông Giang đã tranh thủ cơ hội tâm tình và giải thích cho họ cặn kẽ mọi vấn đề về cách mạng mà họ còn băn khoăn nghi ngại.
Ngày hôm sau 30 tháng 4, khi tiếng súng phía Tân Sơn Nhất đã im và ta đã gặp được lực lượng từ bên ngoài vào, ta mời họ dự một bữa liên hoan trước khi chia tay và theo yêu cầu của khách, ta tặng mỗi người hai chai rượu Lúa Mới và một gói lương khô mà họ nói rất quý vì “chỉ Quân giải phóng mới có”. Sau đó ta cấp giấy cho họ ra về, và được biết họ không gặp trở ngại gì dọc đường”… (Trại Đa-vít 823 ngày đêm của Câu lạc bộ Truyền thống Ban Liên hợp quân sự – “trại Đa-vít”, Nxb Quân đội nhân dân, trang 363, 364).
Rõ ràng, trại Davis không như Huy Đức cố ý “méo mó”.
Đọc “Bên thắng cuộc” tôi thấy tướng tá ngụy thì tuẫn tiết, bản thân chúng là lính đánh thuê có tiết tháo gì đâu mà tự tử để bảo toàn khí tiết? Chẳng qua bọn chúng bị bọn tâm lý chiến, bọn “biệt kích văn hóa” đầu độc, bị lừa bịp là cộng sản sẽ “tắm máu” trả thù nên chúng tự tử đấy thôi. Còn “Bên thắng cuộc” thì… “lạnh lùng, tàn bạo, nham hiểm”. Nếu bạn đọc thiếu tỉnh táo sẽ “thương cảm” cho những tên “biệt kích văn hóa” như Chu Tử đã bị B40 bắn theo giết chết, hoặc cách mạng bắt đi cải tạo nhiều năm đối với Mai Thảo, Duyên Anh, Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Mạnh Côn… trong khi hoàn cảnh gia đình của chúng rất khó khăn… Sự thật, năm 1966 tòa soạn báo “Sống” của Chu Tử bị nhân dân biểu tình đập phá vì bản chất lừa bịp, phản động, đồi trụy của Chu Tử. Sinh viên Sài Gòn đã lập “phiên tòa xử án Chu Tử”, và đốt các tác phẩm của hắn. Cũng thời gian đó cách mạng đã trừng trị Từ Chung (báo Chính Luận), Chu Tử. Từ Chung đền tội, còn Chu Tử bị trúng đạn nhưng may mắn thoát chết. Năm 1975 hắn đền tội ác, cũng như những tên khác bị bắt cải tạo nhiều năm đâu có là oan ức? Miền Nam nơi tôi sinh ra, khi Mỹ – ngụy còn tạm thời kiểm soát, đau thương, rên xiết lầm than như tôi đã dẫn chứng, không có một miền Nam nào khác, mà Huy Đức cho rằng không giống với miền Nam trong sách giáo khoa mà Huy Đức đã học dưới mái nhà trường. Tôi thật sự vừa thất vọng, vừa phẫn nộ khi đọc xong Mấy lời tác giả. Lời cám ơn và 11 chương “Bên thắng cuộc” của Huy Đức.
Tolstoi (Léon) văn sĩ và triết gia lừng danh của nước Nga thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX có câu nói nổi tiếng: “Sự khác nhau giữa chất độc vật chất và chất độc tinh thần là ở chỗ phần lớn chất độc vật chất gây khó chịu cho vị giác, còn những chất độc tinh thần dưới dạng… những cuốn sách xấu thì tiếc thay, thường lại rất hấp dẫn” (Danh ngôn Việt Nam và thế giới của Huỳnh Huy Lộc, Nxb Thuận Hóa – Sách đã dẫn, trang 173).
Khi còn sinh thời Bác Hồ viết: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ. Viết để nêu những cái hay cái tốt của dân tộc ta, của bộ đội ta, của bạn ta, đồng thời phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội nên không chỉ viết về cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn. Nêu cái hay cái tốt thì phải có chừng mực, chớ phóng đại, có thế nào nói thế ấy, bộ đội và nhân dân ta cũng đủ nhiều cái hay để nêu lên, không cần phải đặt ra. Phê bình thì phải phê bình một cách thật thà chân chính, đúng đắn chứ không phải để cho địch lợi dụng để nó phản tuyên truyền” (Danh ngôn Việt Nam và thế giới – Sách đã dẫn, trang 149).
Rõ ràng, Huy Đức không có cái Tâm của người làm báo, không thông tin trung thực, nói sai, nói méo mó với đầy ác ý, không phản ánh ý kiến, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. 13 tuổi, Huy Đức đã cố ý ăn phải bã tư tưởng của bọn “biệt kích văn hóa”, nên cưu mang, sinh sản ra “Bên thắng cuộc” chính là con đẻ của những tên “biệt kích văn hóa”.
——————-
(1) Tựa bài do Tòa soạn đặt.
(2) Tựa bài của tác giả.
HẾT

Trước Trước
 
Tiếp Tiếp
Diễn đànDiễn đànNghệ thuật và k...Nghệ thuật và k...Biển nguồn chữ ...Biển nguồn chữ ...Bã dạiBã dại