21 Tháng Mười Một 2017
 
Diễn đànDiễn đànNgôn ngữ trẻNgôn ngữ trẻCác quan niệm m...Các quan niệm m...Ngôn ngữ trẻ và sự  vận độngNgôn ngữ trẻ và sự vận động
Trước Trước
 
Tiếp Tiếp
Bài mới
 27/07/2009 10:30 CH
 
 Được sửa bở aiviet  vào 31/07/2009 6:21:20 SA

Chào cả nhà,

       Từ thời cụ Nguyễn Trãi làm thơ Quốc âm đến giờ "Lợi tôi nào thủa ích chưng dân", tiếng Việt cả viết và nói chắc cũng thay đổi nhiều. Nếu còn nói theo các cụ, ngày nay chúng ta chắc vẫn còn nói "Bầu blời xanh". Tôi cứ băn khoăn xem động lực nào biến đổi một ngôn ngữ. Chắc chắn ngôn ngữ không ngừng vận động. Và có lẽ là lớp trẻ là động lực thay đổi ngôn ngữ':

       - "Hơi bị sướng", "đội cấn", ... có lẽ là những cách nói mà người già không ưa, cho là phá phách.

       Động lực thứ hai có tính cách mạng chính là sự ra đời của chữ quốc ngữ. Một mặt chữ Quốc ngữ  ghi âm thực tế, nhưng cũng áp đặt một số âm. Thí dụ, ch --> tr, s--> x, d-gi có lẽ có chữ quốc ngữ mới chuẩn hóa được. Khi đã chuẩn thì chính chữ quốc ngữ sẽ áp đặt cách phát âm. Đã viết s là phải cố uốn lưỡi, chứ trong thực tế nhiều người không phân biệt được s,x. Có người đến bây giờ vẫn không bao giờ nói rượu mà chỉ biết diệu.

       Động lực thứ 3 cho tiếng Việt có lẽ sẽ là Internet.

Aiviet

Bài mới
 31/07/2009 6:34 SA
 

Chào các bác

      Quan điểm của GS Cao XUÂN HẠO có thể tóm gọn như sau:

        1. Ngữ pháp Việt nam hiện nay không phải là ngữ pháp tiếng Việt mà là một loại "dĩ Âu vi trung" vay mượn của Pháp, Nga. Ngữ pháp này không có khả năng làm chúng ta hiểu tiếng Việt tốt hơn mà trái lại làm hại tiếng Việt.

        2. Giới trẻ bị ngữ pháp này "đầu độc" và tiếp tục làm hỏng tiếng Việt. Một số nhà ngôn ngữ lo tiếng Việt sẽ biến mất.

        3.  Quan niệm trên bắt đầu từ suy nghĩ (không biết có "vĩ cuồng" hay không): Ngữ pháp Tây do Tây nghĩ ra, dựa trên tiếng Tây, do đó chỉ dùng cho tiếng Tây. Tiếng ta dùng ngữ pháp Tây sẽ biến thành tiếng Tây.

        4. Giáo sư Cao Xuân Hạo chính là người chủ trương xây dựng một loại ngữ pháp tiếng Việt mới, vứt bỏ hẳn các khái niệm ngữ pháp của Tây để chữa căn bệnh của lớp trẻ.

        5. Như vậy, ngôn ngữ trẻ và ngữ pháp Tây là nguyên nhân "hỏng" tiếng Việt.

Tất nhiên có thể có những quan điểm khác

Aiviet 

Dịch giả Cao Xuân Hạo: Giới trẻ đang học cái thứ gần 100%... không phải là tiếng Việt

 

Là người nói chuẩn tiếng Việt, ông có đau lòng khi tiếng Việt nhiều khi bị sử dụng sai nghĩa, sai ngữ pháp trên báo, đài, và ở đâu đó nữa...?

- Có. Nhưng sau hơn 50 năm được các dịch giả của các báo, đài tập dượt cho, bản năng phản ứng của "người bản ngữ" trước những câu nói ngô ngọng chỉ có thể có được ở cửa miệng những ông Tây mới học tiếng Việt được 3 tuần cũng đã dần dần cùn mòn đi. May thay, dù sao tôi cũng đã quá già để có thể bị cái giọng Tây lai ấy ảnh hưởng.

Chỉ thương cho những người Việt nhỏ tuổi sẽ bắt chước kiểu nói đó mà quên dần những phương tiện diễn đạt trau chuốt, chính xác và tinh tế của tiếng mẹ đẻ, cho đến khi đọc Kiều hay thơ Xuân Diệu không còn chút khả năng rung đùi nào nữa.

Ông thấy tình trạng này còn có hy vọng khắc phục được nữa không?

- Tôi không đến nỗi bi quan như một số bạn đồng nghiệp cho rằng dưới những đòn nặng nề của "ba mũi giáp công" (nhà trường, truyền thông đại chúng và các nhà nghiên cứu), tiếng Việt chỉ vài mươi năm nữa là tuyệt diệt như một số ngôn ngữ bị người nói quên dần (để dùng tiếng Anh hay tiếng Tây Ban Nha).

Tôi tin rằng nếu ngay bây giờ chúng ta bắt đầu dạy tiếng Việt thật (chứ không phải tiếng Tây hoá trang bằng thí dụ tiếng Việt) ở nhà trường phổ thông, cái quá trình bi thảm ấy hoàn toàn có thể chặn đứng lại, chậm nhất là sau 20 năm.

Ngôn ngữ thể hiện tư duy của con người, liệu có phải tư duy của chúng ta đang "có vấn đề" không, thưa ông?

- Đừng đặt vấn đề sâu như thế. Ở đây tôi chỉ muốn nói nhà trường đã dạy dỗ thế nào, các ông giáo sư, nhà nghiên cứu làm gì mà để môn tiếng Việt lâm vào một tình trạng đáng buồn như vậy.

Theo tôi, hiện nay thứ tiếng mà chúng ta đang dạy cho học sinh và sinh viên gần như 100% không phải là tiếng Việt, mà là tiếng Pháp hay một thứ tiếng Âu Châu điển hình nào đấy.

Liệu đây có phải là thời tiếng Việt lâm nạn?

- Thực ra có những cuốn tiếng Việt tương đối chuẩn, như cuốn "Ngữ pháp tiếng Việt" in từ năm 1883 của Trương Vĩnh Ký, ông viết từ thời xưa nhưng còn hơn hẳn mấy ông ngôn ngữ bây giờ, những người chỉ sao chép ngữ pháp tiếng Âu Châu qua tiếng Việt.

Là một dịch giả có uy tín ông nghĩ thế nào về tình trạng như là "dịch lấy được" của một số dịch giả hiện nay?

May là tôi cũng đã quá già để có thể bị cái giọng Tây lai ấy ảnh hưởng.

- Thú thật là tôi ít có thì giờ để đọc. Thỉnh thoảng xem trong tạp chí "Văn học nước ngoài" tôi thấy hình như các dịch giả quá ít chú ý đến câu văn. Hình như họ dịch quá sát nguyên bản mà không đọc lại cho kỹ xem văn Việt của bản dịch có ngô ngọng quá không.

Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng bản quyền cho Công ty văn hoá Phương Nam, ông đã yên tâm hoàn toàn về vấn đề tác quyền chưa?

- Chính bên Phương Nam cũng nói là họ sẽ gắng làm hết sức, chứ không thể đủ sức ngăn chặn hẳn hoạt động in lậu. Có những nhà xuất bản từng làm việc lâu năm với các bản dịch của chúng tôi như Nhà xuất bản Văn học chẳng hạn, họ làm việc rất đứng đắn, mỗi lần tái bản cuốn nào đều xin phép hẳn hoi và trả nhuận bút đầy đủ.

Nhưng nhà xuất bản của các tỉnh thì lại thường thấy hai việc này là hoàn toàn không cần thiết. Họ biết thừa rằng dù họ in lậu bao nhiêu thì chúng tôi cũng chẳng biết.

Một câu cuối cùng, đến tuổi này ông sợ nhất điều gì?

- Sợ thì sợ nhiều. Nhưng cũng không sợ gì lắm vì có ai làm gì đâu mà mình sợ? Nhưng đúng là tôi cũng thấy buồn trước tình hình dạy, học và viết tiếng Việt hiện nay.

Quả thật hình như người ta coi thường công việc nghiên cứu và trau dồi tiếng Việt. Có lẽ ai cũng nghĩ rằng nói sao, viết sao hiểu được thì thôi. Chứ lời văn trau chuốt chẳng có giá trị gì trong thời đại của Internet này nữa. Nhược điểm có viết thành yếu điểm thì cũng đã chết ai chưa? Dùng cứu cánh để chỉ "phương tiện cứu vãn" thì phỏng có hại gì cho định hướng phát triển xã hội?

Nếu có nghe, đọc phương tiện truyền thông của ta mỗi ngày truyền bá dăm bảy trăm câu hoàn toàn bất thành cú, biết kêu ai bây giờ?

Theo Lao Động

Bài mới
 01/08/2009 6:54 CH
 

aiviet đã viết 

       Động lực thứ hai có tính cách mạng chính là sự ra đời của chữ quốc ngữ. Một mặt chữ Quốc ngữ  ghi âm thực tế, nhưng cũng áp đặt một số âm. Thí dụ, ch --> tr, s--> x, d-gi có lẽ có chữ quốc ngữ mới chuẩn hóa được. Khi đã chuẩn thì chính chữ quốc ngữ sẽ áp đặt cách phát âm. Đã viết s là phải cố uốn lưỡi, chứ trong thực tế nhiều người không phân biệt được s,x. Có người đến bây giờ vẫn không bao giờ nói rượu mà chỉ biết diệu.

 

Tôi khá tâm đắc với ý kiến này vì từ trước tới nay tôi chưa từng nghĩ tới, song tôi cũng có một nghi vấn là: Trong quá trình hình thành và phát triển chữ Quốc ngữ (hơn ba trăm năm) thì quy tắc viết (chính tả) của chữ Quốc ngữ sẽ áp đặt cách phát âm cho tiếng Việt hay chính cách phát âm của tiếng Việt mới là nguyên nhân tạo ra quy tắc viết của chữ Quốc ngữ? Tôi nghĩ là cả hai, bởi vì: Chữ viết sẽ hoàn thiện dần để phù hợp với cách phát âm của tiếng nói và chữ viết sẽ áp đặt cách phát âm của tiếng nói (như ý kiến của bác AiViet). Còn cụ thể các âm tiết như ch/tr, x/s. d/r,... được hình thành dựa trên cách phát âm hay nó mới là nguyên nhân tạo nên cách phát âm thì xin các cao nhân chỉ giáo!

Bài mới
 02/08/2009 9:09 CH
 
 Được sửa bở tuquy  vào 02/08/2009 9:12:07 CH

Chào các bác,

Tình cờ đọc được 1 bài về "Cái chết của 1 ngôn ngữ" vì thấy có liên quan nên nên tôi post lên đây cho mọi người cùng đọc luôn:

Link congdongnguoiviet.fr

  

Cái Chết Của 1 Ngôn Ngữ : Tiếng Việt Sài Gòn Cũ
Trịnh Thanh Thuỷ, 12/2006

Vấn đề ngôn ngữ là vấn đề của muôn thuở, không riêng gì của người Việt. Trong bài viết này, tôi muốn bàn về một thực trạng của tiếng Việt mà đã đến lúc, chúng ta không thể không suy nghĩ về nó một cách nghiêm túc. Đó là nguy cơ diệt vong của một thứ tiếng Việt mà người miền Nam Việt Nam dùng trước năm 1975 hay còn được gọi là tiếng Việt Sài Gòn cũ. Thứ tiếng Việt đó đang mất dần trong đời sống hàng ngày của người dân trong nước và chẳng chóng thì chầy, nó sẽ biến thành cổ ngữ, hoặc chỉ còn tìm thấy trong tự điển, không còn ai biết và nhắc tới nữa. Điều tôi đang lo lắng là nó đang chết dần ngay chính trong nước chứ không phải ở ngoài nước. Người Việt hải ngoại mang nó theo hành trình di tản của mình và sử dụng nó như một thứ ngôn ngữ lưu vong. Nếu người Việt hải ngoại không dùng, hay nền văn học hải ngoại không còn tồn tại, nó cũng âm thầm chết theo. Nhìn tiếng Việt Sài Gòn cũ từ từ biến mất, lòng tôi bỗng gợn một nỗi cảm hoài. Điều tôi thấy, có lẽ nhiều người cũng thấy, thấy để mà thấy, không làm gì được. Sự ra đi của nó âm thầm giống như những dấu tích của nền văn hoá đệ nhất, đệ nhị Cộng Hoà VN vậy. Người ta không thể tìm ra nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Cổ Thành Quảng Trị, Nghĩa Trang Quận Đội, trường võ bị Thủ Đức ... Tất cả đã thay đổi, bị phá huỷ hoặc biến đi như một sắp xếp của định mệnh hay một định luật của tạo hoá. 

Nhắc đến tiếng Việt Sài Gòn cũ là nhắc tới miền Nam Việt Nam trước 1975. Vì cuộc đấu tranh ý thức hệ mà Nam, Bắc Việt Nam trước đó bị phân đôi. Sau ngày Việt Nam "thống nhất" năm 1975, miền Nam thực sự bước vào sự thay đổi toàn diện. Thể chế chính trị thay đổi, kéo theo xã hội, đời sống, văn hoá và cùng với đó, ngôn ngữ cũng chịu chung một số phận. Miền Bắc thay đổi không kém gì miền Nam. Tiếng Việt miền Bắc đã chịu sự thâm nhập của một số ít ngữ vựng miền Nam. Ngược lại, miền Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp sự chi phối của ngôn ngữ miền Bắc trong mọi lãnh vực. Nguời dân miền Nam tập làm quen và dùng nhiều từ ngữ mà trước đây họ không bao giờ biết tới. Những : đề xuất, bồi dưỡng, kiểm thảo, sự cố, hộ khẩu, căn hộ, ùn tắc, ô to con, xe con, to đùng, mặt bằng, phản ánh, bức xúc, tiêu dùng, tận dụng tốt, đánh cược, chỉ đạo, quyết sách, đạo cụ, quy phạm, quy hoạch, bảo quản, kênh phát sóng, cao tốc, doanh số, đối tác, thời bao cấp, chế độ bao cấp, chế độ xem, nâng cấp, lực công, nền công nghiệp âm nhạc, chùm ảnh, chùm thơ, nhà cao tầng, đáp án, phồn thực, sinh thực khí, từ vựng, hội chứng, phân phối, mục từ, kết từ, đại từ, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân ... dần dà đã trở thành những từ ngữ quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người dân miền Nam. 

Có những từ ngữ miền Nam và miền Bắc trước 1975 đồng nghĩa và cách dùng giống nhau. Có những từ cùng nghĩa nhưng cách dùng khác nhau. Tỷ như chữ "quản lý" là trông nom, coi sóc. Miền Nam chỉ dùng từ này trong lãnh vực thương mại trong khi miền Bắc dùng rộng hơn trong cả lãnh vực cá nhân như một người con trai cầu hôn một người con gái bằng câu : "Anh xin quản lý đời em". Hoặc từ "chế độ" cũng vậy, miền Nam chỉ dùng trong môi trường chính trị như "chế độ dân chủ". Miền Bắc dùng bao quát hơn trong nhiều lãnh vực như "chế độ xem", "chế độ bao cấp". Có những từ miền Bắc dùng đảo ngược lại như đơn giản - giản đơn ; bảo đảm - đảm bảo ; dãi dầu - dầu dãi ; vùi dập - dập vùi ... 

Song song với việc thống nhất đất nước, nhà cầm quyền Việt Nam đã thống nhất hoá tiếng Việt và gọi đó là "tiếng Việt toàn dân". Cuối năm 1979, đầu năm 1980, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam đã phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục tổ chức một số cuộc hội thảo về vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt. Bộ Giáo dục cũng thông qua một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục. Ngày 01/07/1983, Quyết nghị của Hội đồng chuẩn hoá chính tả và Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ đã được ban hành và áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục. 

Khi tiếng Việt được thống nhất và chuẩn hoá, toàn quốc sử dụng chung một thứ ngôn ngữ theo một tiêu chuẩn, mẫu mực nhất định. Tiếng Việt Sài Gòn cũ, gồm những từ ngữ mà tiếng Việt miền Bắc đã có từ ngữ thay thế, sẽ bị quên đi hoặc bị đào thải. Những từ ngữ thông dụng cho cuộc chiến trước đó sẽ biến mất trước tiên. Những : trực thăng, cộng quân, tác chiến, địa phương quân, thiết vận xa, xe nhà binh, lạnh cẳng, giới chức(hữu) trách, dứt điểm, phi tuần, chào bãi, tuyến phòng thủ, trái bộc pha, viễn thám, binh chủng, phi hành, gia binh, ấp chiến lược, nhân dân tự vệ, chiêu hồi, chiêu mộ … hầu như ít, thậm chí không được dùng trong hiện tại. Những từ ngữ thông dụng khác như ghi danh, đi xem đã bị thay thế bằng đăng ký, tham quan. Nhiều từ ngữ dần dần đã bước vào quên lãng như : sổ gia đình, tờ khai gia đình, phản ảnh, đường rầy, cao ốc, bằng khoán nhà, tĩnh từ, đại danh từ, túc từ, giới từ, khảo thí, khán hộ, khao thưởng, hữu sự, khế ước, trước bạ, tư thục, biến cố, du ngoạn, ấn loát, làm phong phú, liên hợp, gá nghĩa, giáo học, giáo quy, hàm hồ, tráng lệ, thám thính, tư thất, chẩn bệnh, chi dụng, giới nghiêm, thiết quân luật ... 

Ở hải ngoại, khi bắt đầu cầm bút, trong tâm thức một người lưu vong, viết, đối với tôi, là một động tác mở để vỡ ra một con đường : Đường hoài hương. Nhiều người viết hải ngoại cũng tìm đến con đường về cố hương nhanh nhất này như tôi. Hơn nữa, để đối đầu với cơn chấn động văn hóa thường tạo nhiều áp lực, tôi xem viết như một phương pháp giải toả và trám đầy nỗi hụt hẫng, rỗng không của một người vừa ly dị với quê hương đất tổ sau một hôn phối dài. Tôi không bao giờ để ý đến việc mình viết cho ai, loại độc giả nào, trong hay ngoài nước, và họ có hiểu thứ ngôn ngữ mình đang dùng hay không vì lúc đó, chỉ có một vài tờ báo điện tử liên mạng mới bắt đầu xuất hiện ở hải ngoại. Sau này, nhờ kỹ thuật điện toán ngày một phát triển, cầu giao lưu giữa trong và ngoài nước được nối lại, độc giả trong và ngoài nước đã có cơ hội tiếp xúc, thảo luận, đọc và viết cho nhau gần như trong gang tấc. Đó là lúc tôi được tiếp xúc với dòng văn học trong nước và làm quen với nhiều từ ngữ mới lạ chưa từng được nghe và dùng. Ngược lại, trong nước cũng vậy, số người lên mạng để đọc những gì được viết bởi người cầm bút ngoài nước cũng không ít. 

Thế hệ chúng tôi được người ta âu yếm gọi là thế hệ một rưỡi, thế hệ ba rọi hay nửa nạc nửa mỡ, cái gì cũng một nửa. Nửa trong nửa ngoài, nửa tây nửa ta, nửa nam nửa bắc, nửa nọ nửa kia, cái gì cũng một nửa. 

Do đó, nhiều lúc tôi phân vân không biết mình nên dùng nửa nào để viết cho thích hợp nữa. Nửa của những từ ngữ Sài Gòn cũ hay nửa của tiếng Việt thông dụng trong nước ? Mình có nên thay đổi lối viết không ? Tôi nghĩ nhiều người viết hải ngoại cũng gặp khó khăn như tôi và cuối cùng, mỗi người có một lựa chọn riêng. Không chỉ trong lãnh vực văn chương, thi phú mà ở các lãnh vực phổ thông khác như giáo dục và truyền thông cũng va phải vấn đề gay go này. Việc sử dụng nhiều từ ngữ thông dụng của quốc nội ở hải ngoại đã gặp nhiều chống đối và tạo ra những cuộc tranh luận liên miên, dai dẳng. 

Các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh, truyền hình thường xuyên bị chỉ trích và phản đối khi họ sử dụng những từ trong nước bị coi là "chữ của Việt Cộng" và được yêu cầu không nên tiếp tục dùng. Nhất là ở Nam Cali, báo chí và giới truyền thông rất dễ bị chụp mũ "cộng sản" nếu không khéo léo trong việc đăng tải và sử dụng từ ngữ. Chiếc mũ vô hình này, một khi bị chụp, thì nạn nhân xem như bị cộng đồng tẩy chay mà đi vào tuyệt lộ, hết làm ăn vì địa bàn hoạt động chính là cộng đồng địa phương đó. 

Trong cuốn DVD chủ đề 30 năm viễn xứ của Thúy Nga Paris, chúng ta được xem nhiều hình ảnh cộng đồng người Việt hải ngoại cố gìn giữ bản sắc văn hoá Việt Nam bằng cách mở các lớp dạy Việt ngữ cho các con em. Khắp nơi trên thế giới, từ nơi ít người Việt định cư nhất cho tới nơi đông nhất như ở Mỹ, đều có trường dạy tiếng Việt. Riêng ở Nam California, Mỹ, hoạt động này đang có sự khởi sắc. Ngoài những trung tâm Việt ngữ đáng kể ở Little Saigon và San José, các nhà thờ và chùa chiền hầu hết đều mở lớp dạy Việt ngữ cho các em, không phân biệt tuổi tác và trình độ. Nhà thờ Việt Nam ở Cali của Mỹ thì rất nhiều, mỗi quận hạt, khu, xứ đều có một nhà thờ và có lớp dạy Việt ngữ. Chùa Việt Nam ở Cali bây giờ cũng không ít. Riêng vùng Westminster, Quận Cam, Cali, đi vài con đường lại có một ngôi chùa, có khi trên cùng một con đường mà người ta thấy có tới 3, 4 ngôi chùa khác nhau. Việc bảo tồn văn hoá Việt Nam được các vị hướng dẫn tôn giáo như linh mục, thượng tọa, ni sư nhắc nhở giáo dân, đại chúng mỗi ngày. Lớp học tiếng Việt càng ngày càng đông và việc học tiếng Việt đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng lưu vong. "Tại Trung tâm Việt ngữ Hồng Bàng, năm nay số học sinh nhập học tiếng Việt lên tới 700 em. Những thầy cô dạy tiếng Việt đều làm việc thiện nguyện hoàn toàn, đã hết lòng chỉ dạy cho các em, nhất là các em vừa vào lớp mẫu giáo tiếng Việt" (trích 
Việt báo, Chủ nhật, 24/09/2006) 

Về vấn đề giáo trình thì mỗi nơi dạy theo một lối riêng, không thống nhất. Sách giáo khoa, có nơi soạn và in riêng để dạy hoặc đặt mua ở các trung tâm Việt ngữ. Còn ở đại học cũng có lớp dạy tiếng Việt cho sinh viên, sách thường được đặt mua ở Úc. Một giảng sư dạy tiếng Việt tâm sự với tôi : "Khi nào gặp những từ ngữ trong nước thì mình tránh đi, không dùng hoặc dùng từ thông dụng của Sài gòn cũ trước 75 vì nếu dùng cha mẹ của sinh viên, học sinh biết được, phản đối hoặc kiện cáo, lúc ấy phải đổi sách thì phiền chết." 

Sự dị ứng và khước từ việc sử dụng tiếng Việt trong nước của người Việt hải ngoại có thể đưa tiếng Việt ở hải ngoại đến tình trạng tự mình cô lập. Thêm nữa, với sự phát triển rầm rộ của kỹ thuật điện toán và thế giới liên mạng, báo chí, truyền thông của chính người Việt hải ngoại đến với mọi người quá dễ dàng và tiện lợi. Độc giả cứ lên mạng là đọc được tiếng Việt Sài Gòn cũ nên họ dường như không có nhu cầu tìm hiểu tiếng Việt trong nước. Kết quả là tiếng Việt trong và ngoài nước chê nhau ! ! ! 

Việc người Việt hải ngoại chống đối và tẩy chay ngôn ngữ Việt Nam đang dùng ở trong nước có vài nguyên do : 

Thứ nhất là do sự khác biệt của ý thức hệ. Những người Việt Nam lưu vong phần lớn là người tị nạn chính trị. Họ đã từ bỏ tất cả để ra đi chỉ vì không chấp nhận chế độ cộng sản nên từ chối dùng tiếng Việt trong nước là gián tiếp từ chối chế độ cộng sản. 

Thứ hai, sự khác biệt của từ ngữ được dùng trong cả hai lãnh vực ngữ nghĩa và ngữ pháp. Đây là một thí dụ điển hình. Trong cùng một bản tin được dịch từ một hãng thông tấn ngoại quốc, nhà báo ở trong nước và ngoài nước dịch thành hai văn bản khác nhau : 

Trong nước : 

Tàu ngầm hạt nhân Nga bốc cháy 

Interfax dẫn một nguồn tin Hải quân Nga cho hay ngọn lửa bắt nguồn từ phòng điện hóa và dụng cụ bảo vệ lò hạt nhân đã được kích hoạt, do đó không có đe dọa về nhiễm phóng xạ. Phát ngôn viên hạm đội này cho hay : "Lửa bốc lên do chập điện ở hệ thống cấp năng lượng phần mũi tàu. 
(
http ://vnexpress. net/Vietnam/ The-gioi/ 2006/09/3B9EDF89 /

Ngoài nước : 

Hỏa hoạn trên tàu ngầm Nga 

Hải quân Nga nói rằng lò phản ứng hạt nhân trên tàu Daniil Moskovsky đã tự động đóng lại và không có nguy cơ phóng xạ xảy ra. Chiếc tàu đã được kéo về căn cứ Vidyayevo. Nguyên nhân hỏa hoạn có thể do chạm giây điện. 
(
http ://nguoi- viet.com/ absolutenm/ anmviewer. asp ?a=48362&z=75

Một người Việt hải ngoại khi đọc văn bản thứ nhất sẽ gặp những chữ lạ tai, không hiểu nghĩa rõ ràng vì sự khác biệt như những chữ : phòng điện hoá, được kích hoạt, chập điện, hệ thống cấp năng lượng... 

Hơn thế nữa, Việt Nam mới bắt đầu mở cửa thông thương giao dịch với quốc tế ; những từ ngữ mới về điện toán, kỹ thuật, y khoa, chính trị, kinh tế, xã hội, ồ ạt đổ vào. Có nhiều từ ngữ rất khó dịch sát nghĩa và thích hợp nên mạnh ai nấy dịch. Ngoài nước dịch hai ba kiểu, trong nước bốn năm kiểu khác nhau, người đọc cứ tha hồ mà đoán nghĩa. Có chữ thà để ở dạng nguyên bản, người đọc nhiều khi còn nhận ra và hiểu nghĩa nó nhanh hơn là phiên dịch. 

Trong việc phiên dịch, theo tôi, địa danh, đường phố, tên người nên giữ nguyên hơn là phiên dịch hay phiên âm. Nếu có thể, xin chú thích từ nguyên bản ngay bên cạnh hay đâu đó bên dưới bài viết sẽ giúp người đọc dễ theo dõi hay nhận biết mặt chữ. Tỷ như việc phiên âm các địa danh trên bản đồ trong sách giáo khoa của Bộ Giáo dục trong nước là việc đáng khen nhưng tôi nghĩ, nếu đặt từ nguyên thủy lên trên từ phiên âm thì các em học sinh chưa học tiếng Anh hoặc đã học tiếng An sẽ dễ nhận ra hơn. Xin lấy tỉ dụ là những địa điểm được ghi trên tấm bản đồ này. (
http ://i12.photobuc ket.com/albums/ a215/unisom/ thualuonJPG. jpg)

Tôi thấy một hai địa danh nghe rất lạ tai như Cu dơ Bây, Ben dơ mà không biết tiếng Mỹ nó là cái gì, ngồi ngẫm nghĩ mãi mới tìm ra : đó là hai địa danh Coos Bay và Bend ở tiểu bang Oregon, nước Mỹ ! 

Ngôn ngữ chuyển động, từ ngữ mới được sinh ra, từ cũ sẽ mất đi như sự đào thải của định luật cung cầu. Tiếng Việt Sài Gòn cũ ở trong nước thì chết dần chết mòn ; ở ngoài nước, nếu không được sử dụng hay chuyển động để phát sinh từ mới và cập nhật hoá, nó sẽ bị lỗi thời và không còn thích ứng trong hoạt động giao tiếp nữa. Dần dà, nó sẽ bị thay thế bằng tiếng Việt trong nước. Nhất là trong những năm gần đây, sự chống đối việc sử dụng tiếng Việt trong nước ngày càng giảm vì sự giao lưu văn hoá đã xảy ra khiến người ta quen dần với những gì người ta đã phản đối ngày xưa. Tạp chí, sách, báo đã đăng tải và phổ biến các bản tin cũng như những văn bản trong nước. Người ta tìm được nhiều tài liệu, ấn phẩm, sách nhạc quốc nội được bày bán trong các tiệm sách. Các đài truyền thanh phỏng vấn, đối thoại với những nhà văn, nhà báo, chính trị gia và thường dân trong nước thường xuyên. Đặc biệt, giới ca sĩ, nhiều người nổi tiếng ra hải ngoại lưu diễn, đi đi về về như cơm bữa. Giới truyền thông bây giờ sử dụng từ ngữ trong nước rất nhiều, có người mặc cho thiên hạ chỉ trích, không còn ngại ngùng gì khi dùng từ nữa. Khán thính giả có khó chịu và chê trách, họ chỉ giải thích là thói quen đã ăn vào trong máu rồi, không chịu thì phải ráng mà chịu. 

Sự ra đi của một chế độ kéo theo nhiều thứ : con người, tài sản, nhà cửa, vườn tược, lịch sử… nhưng có cái bị lôi theo mà người ta không ngờ nhất lại là "cái chết của một ngôn ngữ". Đau lòng lắm thay ! 
  

 

 


Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Bài mới
 02/08/2009 9:37 CH
 

Chào các bác,

       Có một thuyết cho rằng vào thế kỷ 17-18, Việt nam vẫn còn âm tl thay cho tr. Trời tức là Tlời, vì vậy trong Kinh thánh có Đức chúa Lời (thực ra là Trời, Lời, Giời). Khi thống nhất viết Trời những tạp âm dần biến mất. Lời chỉ còn lại trong nhà thờ, Giời chỉ còn trong khẩu ngữ. Rõ ràng, có chữ Quốc ngữ, cách viết văn cũng khác, mới có Tố Tâm được. Sau này mới có Đoạn Tuyệt, Tiêu Sơn Tráng Sĩ, Gánh hàng hoa,...

Aiviet

Bài mới
 29/01/2010 12:35 SA
 

Đây là lần đầu tiên cháu vào trang web này

Hú hú thật là thú vị :D

Cháu đã dạo qua 1 vòng các topic và thấy là có rất nhìêu điều cháu cần học hỏi từ những gì các cô các chú đã viết :). Và tới topic này, cháu xin phép đc nói ra 1 số ý kiến của mình như sau:

Về bài phỏng vấn dịch giả Cao Xuân Hạo mà chú aiviet post lên, có nhiều điểm cháu không đồng tình lắm.

Cháu thấy trong bài dịch giả Cao Xuân Hạo nhiều lần nói rằng giới trẻ đang sử dụng ngôn ngữ gần 100% ko phải TV, rồi đó là ngôn ngữ Tây hoá trang bằng thí dụ TV, rồi là tiếng Tây lai... Nhưng đọc xong bài phỏng vấn này cháu thực sự không hiểu rõ đc TV100% phải là như thế nào ạ, và ngôn ngữ giới trẻ đang sử dụng hiện nay "Tây lai" ở những điểm nào ạ. "Ngữ pháp Tây" đã làm hỏng giới trẻ được biểu hiện như thế nào ạ.... Cháu thấy hơi mơ hồ ạ.

"Nhà trường đã dạy dỗ thế nào, các ông giáo sư, các nhà nghiên cứu làm gì mà để TV lâm vào tình trạng đáng buồn như vậy".

Thực ra cá nhân cháu thấy nhà trường đã dạy về cơ bản là đúng những thứ họ cần dạy, các ông giáo sư, các nhà nghiên cứu cũng đã phát biểu rất nhiều trên các phương tiện truyền thông về cách sử dụng TV sai lệch của giới trẻ, rồi việc làm mất sự trong sáng của TV...nhưng rút cục cũng ko thay đổi đc gì lắm. Việc giới trẻ sử dụng ngôn ngữ @, ngôn ngữ xì tin như kiểu "hơi bị sướng" hay "đội cấn" mà chú aiviet đề cập vẫn tồn tại rất rất nhiều. Sao dịch giả Cao Xuân Hạo ko phê bình truyền thông ạ? Bằng chứng là nếu đọc 1 vài tờ báo dành cho teen hiện nay, chúng ta dễ dàng bắt gặp vô thiên lủng những ngôn ngữ teen, đó là 1 nguyên nhân làm hỏng TV.

Hơn nữa, cá nhân cháu cho rằng, việc teen sử dụng ngôn ngữ Tây hoá như hiện nay ko phải là điều gì đó quá xấu như các bậc cha chú vẫn hay phê bình. Ở bất cứ thời đại nào, teen cũng có quyền thể hiện cá tính của mình, thể hiện sự "khác" của mình. Đôi khi chính những ngôn ngữ đó sẽ thể hiện sự trẻ trung, đáng yêu ... của giới trẻ. Điều quan trọng là biết sử dụng những ngôn ngữ đó với mức độ như thế nào. Chỉ cần giới trẻ ko "bê nguyên" những ngôn ngữ Tây hoá đó vào bài vở, vào văn bản hành chính... của mình là được đúng ko ạ ?

Cá nhân cháu khi type bài này mất khá nhiều thời gian bởi đơn giản là cháu.... không quen, phải vừa viết vừa sửa vừa chau chuốt. Cháu quen với việc viết trên facebook, trên blog, trên 4rum trường với những ngôn ngữ đúng là muốn-hiểu-thì-phải-trẻ.

Cháu nghĩ là trong khi giới trẻ đang cố gắng "cân bằng" bản thân, nghĩa là vừa học hỏi để sử dụng TV chuẩn vừa hạn chế sử dụng quá nhiều ngôn ngữ teen thì người lớn cũng cần "cân bằng" mình bằng cách vừa "truyền đạo" cho giới trẻ hiểu tầm quan trọng của việc sử dụng TV chuẩn, vừa học cách chấp nhận ngôn ngữ của giới trẻ ở mức độ nhất định. Lí do là muốn "xoá" ngôn ngữ Tây hoá là điều cực khó, nếu ko muốn nói là ko thể làm đc ạ:D.

Hơn nữa, cần cho giới trẻ những thứ thực sự là "trẻ" :D

Cháu là người trẻ và cháu thấy topic này rất thú vị nên có chút ý kiến như vậy ạ:D

Bài mới
 29/01/2010 1:17 CH
 

Chào bác thaonguyen,

Trước hết trong ngôi nhà thegioichu này không có ai là chú cháu cả. Tất cả đều là "bác", "tôi", "cậu", "tớ". Các bác học sinh cấp 2 vào đây cũng thành bác, mà cụ Cao Xuân Hạo hay cụ Nguyễn Trãi, vua Hùng vào đây thảo luận cũng thành "bác" luôn. Thế cho nó dân chủ, có dân chủ mới phát triển học thuật được.

Tôi rất kính trọng GS Cao Xuân Hạo (hình như có chút họ hàng bên ngoại phải gọi bằng gì đó), nhưng quả tình tôi đồng ý với bác thaonguyen tại nhiều điểm hơn. Để phân tích thì hơi dài dòng, mà có thể phải luận chiến với các tín đồ của bác Hạo. Sơ bộ thì có các điểm thế này:

1. Bác Hạo chống lại quan điểm dùng ngữ pháp hiện nay, cho rằng đó là loại ngữ pháp "dĩ Âu vi trung" theo Tây chứ không phù hợp với tiếng Việt. Bác ấy có đưa ra một số minh họa như tiếng Việt vốn không có chữ "là" (nhưng có "rằng thì là mà" rất nhiều :-)) Cái chữ "to be" là lấy của Tây. Vốn cũng chẳng có chủ ngữ vị ngữ gì hết. Bác nào rảnh có thể sưu tầm vài bài nữa của bác Hạo post lên đây cho vui.

2. Có thể bác Hạo nói đúng cho tiếng Việt trước thời Tây, trước khi có Tố Tâm, Khái Hưng, Nhất Linh, Nguyễn Văn Vình, Phạm Quỳnh... Nhưng ngôn ngữ là vận động. Tiếng Việt như ta đang dùng đã bị ảnh hưởng Tây và ngữ pháp cũng đã hình thành cả trăm năm nay, không lẽ ta lại khai quật tiếng Việt cổ Tàu hóa để gọi nhau là các hạ, xưng là bỉ phu,...

3. Vẫn áp dụng quan điểm ngôn ngữ biến động, bác Hạo cũng hơi ngặt nghèo với ngôn ngữ trẻ. Ngôn ngữ là của lớp trẻ, đúng sai hôm nay chưa chắc là đúng sai ngày mai nếu lớp trẻ không chấp nhận hay không chấp nhận. Nếu ta cứ cố định ngôn ngữ bất biến thì khéo phải hú như vượn mới đúng ngữ pháp.

4. Tuy nhiên, theo thiển ý của tôi, ngữ pháp không có Tây Ta mà phản ánh một logic suy nghĩ. Cấu trúc ngôn ngữ phản ánh cấu trúc tư duy (hình như bác Chomsky nói thế). Do đó cái bác Hạo nói là ngữ pháp dĩ Âu vi trung chính là tư duy phổ quát. Chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ theo tôi có nội hàm phân loại các khái niệm khác nhau, chứ không phải tiếng ta không có ngữ pháp. Bác Hạo quay lại thời ta CHƯA có ngữ pháp để nói rằng Ngữ pháp ta (cái mà thời đó chưa có) khác ngữ pháp hiện tại (khi ta đã có và ngữ pháp Tây).

5. Kể cả nếu ta đã từng có một cái ngữ pháp đặc biệt nào đó mà không ai biết là cái gì, thì hiện nay ta cũng trót có một cái không đến nỗi tồi và đã dùng gần 100 năm. Tiếng Việt cũng đã thay đổi dưới tác động của cái ngữ pháp này. Liệu có nên vặn ngược kim đồng hồ để tìm một cái ngữ pháp khác mà tôi không dám chắc nó có hay không. Theo tôi thì bác Hạo cũng nói tù mù thế thôi chứ đã có hệ thống nào đâu.

6. Vì vậy các bạn trẻ, cứ trẻ trung thoải mái không phải sợ tín điều nào. Tuy nhiên cũng nên nghe xem các cụ nói có trúng hay không một chút. Biết đâu có ích.

Aiviet

Bài mới
 19/10/2017 4:47 CH
 
Khi bất kì ai sử dụng dịch vụ dịch công chứng nào cũng muốn nhanh nhất có thể để tiết kiệm thời gian. Tất nhiên, thực chất thật sự của việc dịch công chứng lấy ngay là gì không phải ai cũng biết. Cùng tham khảo bài viết sau đây nhé!đầu tiên chúng ta phải tìm hiểu xem dịch công chứng trước tiên là gì?trước tiên phải hiểu rõ thực sự dịch công chứng là gì, nói cho gọn ghẽ dễ hiểu nó chỉ là đem bản dịch nguyên văn của hồ sơ gốc đến cơ quan tư pháp công chứng rằng thực sự sao y đúng mực ra từ bản chính.Tim hieu them ve Dich thuạt ho so thau tai Ha NoiĐể làm được như vậy, ngoài việc bản dịch công chứng đó đã được biên dịch sang ngôn ngữ cần thiết một cách chuẩn y ra thì nó còn cần có chữ ký của người dịch trên đó (phải có bằng cử nhân đại học ngoại ngữ) và bản thân chữ ký này đã phải được đăng ký trước ở phòng công chứng, nay là bên cơ quan tư pháp, những người trong ngành dịch công chứng gọi đó là có tư cách pháp nhân.dich cong chungDịch công chứng lấy nhanh?Dịch công chứng tốn bao nhiêu thời gianphổ biến chung những giấy tờ cần dịch công chứng đều có nội dung không dài, thậm chí rất ngắn gọn, ví dụ như chứng minh thư, hộ chiếu, bằng cấp, bảng điểm, học bạ,…dài hơn một chút thì có hồ sơ du học, hồ sơ thầu, báo cáo tài chính,…hầu hết là những giấy tờ mang tính pháp lý. Trên thực tế, khâu biên dịch thường được hoàn tất khá nhanh Bởi hầu hết các công ty dịch thuật đều đã quen thuộc với các form mẫu tài liệu, hồ sơ văn bằng nàyỞ một số hồ sơ viết bằng ngôn ngữ hiếm chạm chán hoặc mang tính chuyên môn đáng chú ý là thì việc dịch công chứng của chúng chỉ chậm lại một chút đối với các nơi chuyện nghiệp và lâu hơn nếu vào tay dân mới hành nghề, đó là về mặt dịch ngữ chuyên môn đơn thuần.Ngoài ra còn rất nhiều điều chắc hẳn bạn chưa biết rõ. Hãy liên hệ ngay với Khai Trí CO để được giải đáp rõ hơn về dịch vụ. Hoặc liên hệ qua Telephone 0906 604 337Tham khảo: Dich cong chung - khaitrico.com/dich-cong-chung-tu-phap-o-tat-ca-quan-cua-tp-hcm-ha-noi.html
Trước Trước
 
Tiếp Tiếp
Diễn đànDiễn đànNgôn ngữ trẻNgôn ngữ trẻCác quan niệm m...Các quan niệm m...Ngôn ngữ trẻ và sự  vận độngNgôn ngữ trẻ và sự vận động